BÀI VIẾT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, PHÒNG TRÁNH BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG, PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC

Trường PTDTBT Tiểu học Huổi Lèng.Mường Chà – Điện Biên

           Hưởng ứng phong trào thi “ Viết về bình đẳng giới và bạo lực học đường” do ngành giáo dục và đào tạo huyện Mường Chà phát động. chúng  tôi là những  giáo viên trong Trường học tuyên truyền phát động và tham gia hưởng ứng nhiệt tình phong trào này.

BÌNH ĐẲNG GIỚI

           Bình đẳng giới, vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

            Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.” Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.

                 Trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ.

                  Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng, chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành tựu như ở Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng

                   Bên cạnh thực hiện bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị thì bình đẳng giới trong lao động cũng đạt được nhiều kết quả khả quan. Trong môi trường giáo dục ngày nay nam nữ có quyền bình đẳng như nhau mạnh dạn làm theo cái mới, dám nghĩ dám làm, có tinh thần đấu tranh phê, tự phê, xây dựng tập thể có đời sống văn hoá, có tinh thần tương thân tương ái đoàn kết giúp đỡ đồng chí đồng nghiệp. trau dồi đạo đức nghề nghiệp, nhân cách phẩm chất cao quý nhà giáo gắn liền với việc thực hiện Điều lệ trường Tiểu học. Nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, xây dựng tốt mối đoàn kết nội bộ, kịp thời ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, chia rẽ gây mất đoàn kết nội bộ cơ quan trường học. Chấp hành đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, nhiệm vụ của trường, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, kiến thức và năng lực công tác. Xây dựng quy tắc ứng xử văn minh - thân thiện và kỹ năng ứng xử các mối quan hệ  nhà trường và xã hội...

PHÒNG TRÁNH BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

                  Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học.

                Bạo lực học đường bao gồm các hành vi bạo lực về thể chất, gồm đánh nhau giữa các học sinh hoặc các hình phạt thể chất của nhà trường; bạo lực tinh thần, bao gồm cả việc tấn công bằng lời nói; bạo lực tình dục, bao gồm hiếp dâm và quấy rối tình dục; các dạng bắt nạt bạn học; và mang vũ khí đến trường.

                Tình trạng bạo lực trong trường học đã và đang diễn ra nóng bỏng trên khắp thế giới ở tất cả những cấp học, lớp học khác nhau. Bạo lực học đường không chỉ sảy ra ở học sinh nam mà còn cả ở học sinh nữ; không chỉ giữa học sinh với học sinh mà còn có bạo lực giữa học sinh với giáo viên và giáo viên với học sinh.

                * Ảnh hưởng đến bản thân học sinh. Gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt thể xác.Tồi tệ hơn khi không ít vụ bạo lực đã cướp đi sinh mạng của những học sinh vô tội để lại sự thiệt thòi, đau đớn không chỉ về mặt thể xác mà cả tinh thần cho học sinh và gia đình.

                   Những HS bị bạo lực, nhất là bạo lực về tinh thần, bạo lực ngôn ngữ thường cảm thấy bị tổn thương, chán nản, lo âu, cô đơn, suy sụp… Sự sợ hãi hoặc nỗi ám ảnh. Thậm chí, tình trạng này có thể kéo dài suốt cuộc đời. Các em không dám ra ngoài chơi hoặc đến trường, không thể tập trung vào học hành.

                   Kể cả những em chỉ chứng kiến chứ không tham gia hành vi bạo lực cũng bị ảnh hưởng. Chứng kiến những hành vi bạo lực khiến các em cảm thấy sợ hãi, và nếu thấy những kẻ gây ra bạo lực không bị trừng trị thì những em chứng kiến cũng có thể hùa theo số đông, ủng hộ hành vi này, và có nhiều khả năng trở thành kẻ có hành vi bạo lực trong tương lai.

                   Những hậu quả mà bạo lực học đường gây ra kể cả thể xác hay tinh thần cũng đều trực tiếp ảnh hưởng đến công việc học tập cũng như tương lai của học sinh nếu không được can thiệp kịp thời.

                 Với những ảnh hưởng về mặt sức khỏe cùng với tâm lý lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, học sinh không thể học tập với kết quả tốt nhất có thể. Thậm chí, sự căng thẳng quá mức về mặt tâm lý có thể buộc học sinh kết thúc việc học của mình, hoặc cũng có thể vì gây ra hành vi bạo lực mà học sinh phải nhận kỷ luật đuổi học. Từ đó, tương lai của các em rẽ sang một bước ngoặt khác không mấy khả quan.

                 Đặc biệt, những đứa trẻ có hành vi bạo lực, lạm dụng quyền hành từ khi còn nhỏ, khi lớn lên có thể mắc phải những hành vi tội ác nhiều hơn những đứa trẻ khác. Trẻ em liên lụy vào hành vi bạo lực dù ở vai trò này hay vai trò kia cũng đều có nguy cơ lạm dụng rượu, thuốc lá, và các loại ma túy.

               Hành vi bạo lực không chỉ tác động xấu đến nạn nhân mà còn khiến không khí trường học trở nên nặng nề, căng thẳng với nỗi sợ hãi, bất an luôn bao trùm. Không khí và cuộc sống gia đình bị xáo trộn, căng thẳng, lo lắng.

Ngoài ra, những hành vi bạo lực học đường của học sinh sẽ trở thành nỗi bất an của phụ huynh khi gửi con em mình đến trường, làm mất đi ý nghĩa của môi trường giáo dục lạnh mạnh trong sáng.

PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC

            Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm XHTDTE có diễn biến phức tạp, xảy ra nhiều vụ trọng án đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm XHTDTE không chỉ diễn ra ở nơi công cộng mà còn diễn ra trong gia đình, nơi được coi là tổ ấm của các em. Tội phạm XHTDTE để lại những hậu quả, tổn hại lâu dài, khó khắc phục cho chính các em và cộng đồng.giúp các em bết tự mình phòng ngừa, giúp bạn bè cùng phòng ngừa, cảnh giác, cân nhắc trước hiện tượng “lòng tốt” của người khác mà chưa rõ nguyên nhân (tặng quà, rủ đi ăn, đi hát, đi chơi, mời lên xe để chở về nhà, chở đến trường,…),biết phân biệt cử chỉ thân mật, đúng mực với cử chỉ sàm sỡ, quấy rối hoặc lợi dụng để xâm hại, quấy rối tình dục,…

                 Nguy cơ (báo động) từ cái nhìn: Đối tượng nhìn chằm chằm vào mình, rồi nhìn dáo dác xung quanh xem có ai để ý không, di chuyển khoảng cách đến gần, nhìn vào vùng nhạy cảm,..v.v…Nguy cơ (báo động) từ lời nói: Buông lời ngọt nhạt, lả lơi, ỡm ờ kiểu thăm dò, nói về vùng kín, phim ảnh tình dục,…Nguy cơ (báo động) từ sự đụng chạm: Vuốt tóc, xoa má, xoa và bóp vùng gáy, vùng vai hoặc tỏ ra vô tình đụng chạm vào các phần nhạy cảm (như ngực, bụng, đùi, vùng kín, mông,…).Nguy cơ (báo động) từ sự bắt cóc, cưỡng ép: Đưa đến nơi hoang vắng như bãi đất trống, nghĩa địa, nhà bỏ hoang,…Nguy cơ (báo động) từ cái ôm: Ôm lâu, ôm ghì, vừa ôm vừa sờ soạng,…

                  Trẻ em cần biết không dễ dãi kết bạn, làm quen với người lạ, người mới quen chưa rõ nhân thân lai lịch, người quen trên mạng; không dễ nhận quà, nhận lời mời của những người này. Chia sẻ, tham vấn với bạn bè, người thân trước các hiện tượng lạ, các hành vi làm mình khó chịu,..Không may nếu trở thành nạn nhân bị xâm hại tình dục (hoặc biết người khác như bạn bè bị xâm hại) thì nhanh chóng, mạnh dạn tố giác, tố cáo hoặc nhờ sự trợ giúp của người thân, nhà trường, tổ chức đoàn thể. Không chấp nhận sự dàn xếp, thương lượng, xử lý nội bộ với đối tượng xâm hại tình dục.Giữ lại và giao các đồ vật, tài liệu liên quan đến việc bị xâm hại cho cơ quan chức năng (như quần áo, quà tặng, dữ liệu điện tử,…)

                   Luôn nhớ rằng khi bị xâm hại thì các em là nạn nhân của tội phạm, các em không phải là nguồn cơn của tội lỗi hay phải chịu trách nhiệm cho hành vi của kẻ xâm hại. Các cơ quan, tổ chức luôn đứng về phía các em, có trách nhiệm bảo vệ, bảo mật các thông tin liên quan đến nhân thân và sự việc của các em.Các bậc phụ huynh, thầy cô giáo, các cán bộ đoàn thể,…nên nghiên cứu, phổ biến các kiến thức, kỹ năng kể trên rộng rãi đến con em trong gia đình, học sinh trong nhà trường và trẻ em địa phương để các em có thêm nền tảng tự bảo vệ chính mình trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay.Trong thời gian gần đây, trên cả nước xảy ra hàng loạt vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, gây bức xúc dư luận và gây hoang mang cho nhiều bậc phụ huynh.

                  Do đó, nhà trường tổ chức buổi tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết và trang bị các kiến thức, kỹ năng để hướng dẫn các em mình chủ động phòng chống nạn xâm hại tình dục, nhất là đối với trẻ em.Không ít trường hợp xâm hại tình dục gây chấn động dư luận vì người gây tội ác lại chính là những người thân thiết trong gia đình. Do đó, việc trang bị kỹ năng sống, kỹ năng phòng vệ cá nhân là rất cần thiết cho các em.

                    Chính vì vậy cần duy trì giữ vững và ổn định tình hình chính trị tư tưởng trong đội ngũ cán bộ giáo viên. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, về việc cần thiết phải đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

                     Thực hiện tốt dân chủ hóa trong trường học, công khai toàn bộ kế hoạch hoạt động của nhà trường, tổ chức hội nghị công chức viên chức đầu năm để công chức, viên chức biết, tham gia góp ý và thực hiện.

                     Tổ chức tuyên truyền và cho giáo viên đăng ký tuyệt đối không để xảy ra hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo và xúc phạm nhân phẩm và xâm phạm đến thân thể học sinh.

                   Tích hợp giáo dục nội dung phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống xâm hại trẻ em, bạo lực học đường; giáo dục bảo vệ nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường, tiết kiệm năng lượng, biển đảo Việt Nam, giáo dục về quyền và bổn phận trẻ em,

         Học sinh toàn trường được giáo dục về kĩ năng sống, giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em, giáo dục về biển đảo Việt Nam, ATGT, giao lưu Tiếng Việt.

                  Giáo viên thường xuyên giáo dục học sinh: Tự làm được những của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công hướng dẫn. Biết tự khẳng định và bảo vệ quyền nhu cầu chính đáng. Có ý thức về quyền và mong muốn của bản thân, bước đầu biết cách trình bày và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng. Biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi vủa mình. Nhận biết và bày tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân chia sẻ tình cảm cảm xúc của bản thân với người khác. Hòa nhã với mọi người, không nói hoặc làm những điều xúc phạm người khác. Thích ứng với cuộc sống: Tìm được những cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ khác nhau cho yêu cầu khác nhau.

       Nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân. Biết sử dụng ngôn ngữ với hình ảnh cử chỉ để trình bày thông tin và ý tưởng. Tập trung chú ý khi giao tiếp nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp. Thiết lập quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn: biết cách kết bạn và giữ gìn tình bạn, nhận ra được những bất đồng xích mích của bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau, biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn. Biết giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập. Tổ chức thuyết phục người khác: Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập và chia sẻ giúp đỡ thành viên khác cùng hoàn thành việc được phân công.

 Các em tự thực hiện nhiệm vụ học cá nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc không cần giúp đỡ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên hoặc người khác; vận dụng những điều đã học để giải quyết nhiệm vụ trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện những tình huống mới liên quan tới bài học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết.

Yêu thiên nhiên có những việc làm thiết thực bảo vệ thiên nhiên. Yêu quê hương tổ quốc, tôn trọng các biểu trưng của đất nước. Kính trọng biết ơn người lao động, người có công với đất nước,  tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa đối với những người có công với quê hương đất nước.

Yêu quý mọi người: Yêu thương qua tâm chăm sóc người thân trong gia đình. Yêu quý bạn bè thầy cô, tôn trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người già, người ốm, khuyết tật, nhường nhịn giúp đỡ em nhỏ. Biết chia sẻ với những bạn khó khăn vùng sâu vùng xa, khuyết tật, đồng bào bị ảnh hưởng thiên tai. Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người:  Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết, hoàn cảnh gia đình. Không phân biệt đối xử chia rẽ các bạn. Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn.

Đi học đầy đủ, đúng giờ. Thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập. Ham học hỏi, thích đọc sách để mở rộng hiểu biêt. Có ý thức vận dụng kiến thức kĩ năng học được ở nhà trường vào đời sống hàng ngày. Chăm làm: Thường xuyên tham gia các công việc của gia đình vừa sức với bản thân. Thường xuyên tham gia các công ciệc của trường lớp, cộng đồng vừa sức với bản thân.

Thật thà ngay thẳng trong học tập, lao động và sinh hoạt hàng ngày, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình. Luôn giữ lời hứa, mạnh dạn nhận lỗi sửa lỗi và bảo vệ cái đúng, cái tốt. Không tự tiện lấy đồ vật tiền bạc của người thân bạn bè, thầy cô và những người khác. Không đồng tình với những hành vi thiếu trung thực trong học tập và cuộc sống.

Có trách nhiệm với bản thân: Có ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe. Có ý thức sinh hoạt nề nếp. Có trách nhiệm với gia đình: Có ý thức giữ gìn và bảo quản đồ dùng cá nhân và gia đình. Không bỏ thừa đồ ăn, thức uống, có ý thức tiết kiệm tiền bạc, điện nước trong gia đình. Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội: Tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường và và các quy định quy ước của tập thể, giữ vệ sinh chung, bảo vệ của công. Không gây mất trật tự đánh cãi nhau. Nhắc nhở bạn bè thực hiện nội quy trường lớp, nhắc nhở người thân thực hiện các quy định quy ước nơi công cộng. Có trách nhiệm với công việc được giao ở trường ở lớp. Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi. Có trách nhiệm với môi trường sống: Có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây xanh và các con vật có ích. Có ý thức giữ vệ sinh môi trường, không xã rác bừa bãi. Không đồng tình với những hành vi xâm hại thiên nhiên.

- Giúp hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất, đạo đức tốt; lối sống trong sáng, có sức khỏe để học tập và lao động, giúp đỡ gia đình, cộng đồng.

- Giúp các em biết tự tin xây dựng những ước mơ của bản thân để phấn đấu; nhen nhóm trong các em những hoài bão và lý tưởng sống tốt đẹp ở tương lai.

- Các em biết tự hoàn thiện bản thân và thích ứng trong mọi môi trường sống. Biết tự điều chỉnh bản thân phù hợp với chuẩn mực đạo đức.

- Giáo dục học sinh tinh thần đoàn kết, tuyên truyền giáo dục về biển đảo, chủ quyền biển đảo.

                Tham gia và thực hiện đầy đủ các hoạt động của câu lạc bộ, làm tốt công tác xã hội. Làm tốt công tác phòng chống ma tuý và tệ nạn xã hội xâm nhập vào học đường.

                                                                  Huổi Lèng, ngày 3 tháng 9 năm 2020

                                                                                                                                       T/M TỔ KHỐI I

                                                                                                                                                              Người viết

 

                                                                                                                                                               Lê Thùy Dung

Bài viết liên quan